Skip to content

Từ "ngủ dài cho đỡ đói" tới khu chế xuất đầu tiên của Việt Nam

Tháng Tư 12, 2010

Tác giả: Phan Chánh Dưỡng

Đầu thập niên 80, quá trình phát triển của Công ty Cholimex cũng như các công ty bạn là một bước đột phá vào cơ chế bao cấp: tạo ra những mầm tư duy mới về một nền kinh tế thị trường dưới sự lãnh đạo của thế chế xã hội chủ nghĩa.

Đường hoà nhập của những nhân sĩ chế độ cũ: Kỳ 1, Kỳ 2

LTS: TP. Hồ Chí Minh có lẽ là nơi gánh chịu nhiều hậu quả nặng nề nhất của cơ cấu khủng hoảng hồi cuối thập niên 80. Trong tình hình kinh tế của đất nước vô cùng bi đát, “Nhóm Thứ Sáu” được giao giải bài toán “chống lạm phát”. Trong bối cảnh không mấy thuận lợi, họ hào hứng lao vào tìm số liệu, cần mẫn phân tích, thống kê, so sánh tỉ giá tiền đồng với đôla… để rồi cho ra đời một công trình mang tên: “các biện pháp chủ động về tiền tệ, giá cả nhằm phát triển kinh tế”.

Tuần Việt Nam xin giới thiệu câu chuyện 3 kỳ của chuyên viên kinh tế Phan Chánh Dưỡng với tựa đề: Từ “Ngủ dài cho đỡ đói” tới Khu chế xuất đầu tiên của Việt Nam.

  • Kỳ 1: Nhóm Thứ Sáu: Ra đời Công ty cổ phần đầu tiên sau năm 1975

“Ngủ dài cho đỡ đói”

Đời người ai cũng mong có một cuộc sống theo ước vọng, một dòng đời thuận lợi. Nhưng nhìn lại bước đường đã qua, ta luôn cảm thấy giai đoạn sống trong nghịch cảnh lại cho ta nhiều hiểu biết về khả năng thật sự của mình và mối quan hệ cộng sinh đa dạng tương tác nhau của mọi người, mọi sự vật. Sự tồn tại và phát triển của con người trong nghịch cảnh luôn là dấu ấn sâu sắc và cũng là điểm son đáng giá của cuộc sống mà chắc hẳn ai cũng có quãng đời đáng hồi tưởng như thế.

Tôi được sinh ra vào năm 1948 trong một gia đình nông dân, lớn lên tiếp cận với nghề buôn bán nhỏ tại một xóm thôn quê. Ước vọng của tôi là làm nghề thày giáo nhưng lại vào đời năm 17 tuổi với việc làm đầu tiên là làm công cho một nhà hàng. Công việc này đối với cậu bé thôn quê chỉ học hết cấp một thật ra cũng phải, nhưng điều này đối với tâm lý tôi lúc bấy giờ lại là một nghịch cảnh.

Quê tôi ở vùng Ông Đốc, Cà Mau, nơi chiến cuộc trở nên ác liệt vào những năm đầu thập niên 60. Năm 1965, các anh tôi đã tham gia công tác cách mạng cũng phải chuyển sâu vào vùng rừng đước Năm Căn, gia đình phải bỏ làng sơ tán. Tôi được các bậc trưởng thượng trong gia đình “quy hoạch” chạy lên Sài Gòn, tự tìm kế sinh nhai và, nếu làm ăn được còn phải chi viện tài chánh về quê nuôi sống gia đình. Tôi cũng ngầm hiểu rằng, người lớn dù không nói ra nhưng ai cũng nghĩ đến việc phải phân tán bọn con trai ra nhiều nơi để còn có người nối dõi tông đường. Tôi đã vào đời trong một tình cảnh xã hội tang thương, gia đình ly tán như thế.

Mười năm ly loạn đất khách quê người, vừa làm vừa học vừa trốn lính, như cá đồng lạc giữa biển Đông, ba đào vượt sóng, vừa “tề gia” vừa “tu thân”; nghĩa là vừa kiếm tiền chi viện cho gia đình suốt mười năm liên tục, vừa nằm gai đèn sách. Kết thúc chiến tranh, đất nước được thống nhất, thì tôi cũng vừa học xong 4 năm đại học ngành vật lý tại Đại học Khoa học Sài Gòn, một kết quả mà mẹ tôi gọi là “phúc đức ông bà để lại”.

Sau năm 1975, tôi được bố trí về làm công tác giáo dục theo đúng nguyện vọng. Năm năm trong ngành giáo tôi đã học được nhiều việc. Như vậy là cuộc đời cũng diễn ra đủ giai điệu: Sĩ, nông, công, thương, mỗi nghề biết một chút. Trong cái vui mừng của những ngày đất nước được thống nhất thì cái khó khăn trong cuộc sống lại nổi lên, sống trên vựa thóc của thế giới mà phải ăn độn bắp khoai.

Trong kháng chiến ta có “tiếng hát át tiếng bom” nhưng lúc này phải “ngủ dài cho đỡ đói”. Nhưng sau đó có một sự cố đến với gia đình tôi, là ông anh cách mạng của tôi vượt biên và trong thời tiết chính trị của vụ “nạn kiều”, lý tưởng làm nghề thày giáo của tôi cũng phải chấm dứt. Một lần nữa được lãnh đạo qui hoạch lại, tôi chuyển qua làm cán bộ nhân viên liên hiệp xã.

Người xưa nói “cùng tất biến, biến tất nông”, khi gặp khó khăn vượt khỏi tầm khả năng thì “dĩ bất biến, ứng vạn biến” nên tôi không làm gì khác hơn là thúc thủ chờ thời.

Đầu năm 1980, tình hình kinh tế của thành phố vô cùng khó khăn, người thiếu ăn, máy thiếu nhiên liệu, thị trường thiếu hàng. Sau đợt cải tạo công thương nghiệp đợt II và hai lần đổi tiền, chúng ta thật sự tiến thẳng lên “xã hội vô sản” bỏ qua giai đoạn quá độ tư bản và giai đoạn cộng sản; tình hình này đã làm thức tỉnh nhiều người.

Thành phố Hồ Chí Minh, một nơi luôn đi trước về sau, nơi mà tàn dư “phong kiến tư bản” nặng nề nhất một lần nữa phải đi trước mở đường và thành phần đáng lên án nhất là “tư sản” được ta moi lên để cùng bàn bạc công việc tương lai của nền kinh tế. Thế là chủ trương xây dựng các công ty xuất nhập khẩu trực dụng ra đời tại đây, với nhiệm vụ làm mọi cách để có nguyên liệu, thiết bị phụ tùng thay thế cho ngành sản xuất công nghiệp. Các công ty đầu tiên như Cholimex, Direximco, Ficonimex, Pharimex ra đời.

Và tôi một lần nữa được chuyển về ngành thương nghiệp, tham gia xây dựng Công ty xuất nhập khẩu Cholimex tại Quận 5. Cuộc đời lại sang trang mới, đến giai đoạn “mất dạy, đi buôn”.

Những mầm tư duy mới

Cuối năm 1980, công cuộc chuẩn bị thành lập công ty Cholimex rất khẩn trương, vừa chạy vừa xếp hàng, vừa tiến hành kinh doanh nội địa vừa làm thủ tục pháp lý để thành lập công ty xuất nhập khẩu. Tôi gốc thày giáo nên được giao việc viết lách làm đơn từ, đề án.

Thật sự cho đến lúc bấy giờ tôi chưa hề biết gì đến nội dung của một hợp đồng đúng nghĩa chứ nói gì đến viết đề án kinh tế. Thế mà cũng phải viết! Sau khi nghe các anh thương gia người Hoa kể lại những gì họ biết về xuất nhập khẩu, tôi cứ việc tổng hợp lại cho ngăn nắp thành một tờ trình khoảng 7 trang đánh máy để trình lên trên, nào là xuất khẩu cán chổi, hột vịt muối, bong bóng cá, gỗ… Tờ trình đó qua 7 lần góp ý sửa đổi, cuối cùng được duyệt. Điều đáng nhớ nhất là chuyến hàng xuất khẩu được duyệt: khách hàng yêu cầu mua đậu phộng. Bảy mươi tấn đậu phộng xuất khẩu đi Hồng Kông, đổi về 10 tấn nhựa, 10 tấn sợi, 10 tấn bột ngọt mở màn cho Công ty đi vào hoạt động.

Như vậy là Uỷ ban Nhân dân Thành phố lúc bấy giờ cho phép Uỷ ban Nhân dân Quận 5 thành lập công ty gọi là “Công ty hợp doanh xuất nhập khẩu trực dụng, gọi tắt là Cholimex” và vào khoảng 15/4/1981 có giấy phép hoạt động.

Thật ra gọi công ty hợp doanh là không đúng, vì lúc bấy giờ lãnh đạo thành phố kêu gọi các công thương gia bỏ tiền vào thành lập công ty, Nhà nước chỉ có chủ trương, cử cán bộ và cho sử dụng những căn nhà tiếp quản, nên phải nói Công ty Cholimex là Công ty cổ phần đầu tiên của Việt Nam sau năm 1975.

Ý nghĩa của sự ra đời Công ty Cholimex và các công ty khách như đã nêu trên tác động đến sự đổi mới mở cửa của thành phố Hồ Chí Minh và sau này là cho cả nước như thế nào tôi không nêu lên ở đây, nhưng nó rất có ý nghĩa với “Nhóm nghiên cứu chuyên đề – Nhóm Thứ Sáu” và nhất là cho cuộc đời tôi.

Nơi đây đối với tôi là một ngã rẽ cuộc đời, là một trường đại học lớn mang đến cho tôi bao sự hiểu biết mới, trong đó có cái quan trọng nhất và ảnh hưởng lớn nhất đối với tôi là cho tôi biết những gì tôi thật sự không biết. Tôi thật sự cần những người giỏi hơn tôi bên cạnh nếu tôi muốn làm một việc gì đó. Và tôi cũng ngộ được một điều nữa, nếu ngày nào ta còn có những người giỏi hơn ở bên cạnh ta, phê bình chỉ trích việc làm của, thì ngày đó ta còn sáng suốt, còn tiến bộ, sai sót trong công việc sẽ giảm đến mức tối thiểu nhất.

Công ty Cholimex đi vào hoạt động, Phòng kế hoạch là bộ phận quan trọng nhất, tôi được cử làm Trưởng phòng, tiếp đó là anh Trần Bá Tước vào và được phân công làm Phó phòng. Rồi một loạt các anh em khác như anh Luật (đã qua đời), anh Phan Thành Chánh, anh Đỗ Trung Đường (đã qua đời) và một số anh em khác làm cộng tác viên như Võ Hùng, Lê Mạnh Hùng, Võ Văn Huệ, Nguyễn Chấn Hưng, Nguyễn Đình Lộc, v.v… Tất cả đều là những anh em thuộc các ngành kinh tế kỹ thuật được đào tạo nghiêm túc trong và ngoài nước trước 1975. Do đó, danh nghĩa tôi làm trưởng phòng, nhưng thật sự anh em làm kế hoạch là chính.

Như vậy là Cholimex đã tập hợp được một đội ngũ anh em trí thức (cũ), và anh Hồng Tôn Như là Giám đốc. Sau này anh Phan Lê Đoàn làm Giám đốc, anh Nghê Ký Thuật, anh Trần Bỉnh Giang (Phó giám đốc), những thương gia tư sản (cũ) cũng rất tôn trọng anh em. Đây là cái mầm đầu tiên cho cuộc hội ngộ anh em Nhóm Thứ Sáu.

Công ty Cholimex tuy được giấy phép cũng như điều lệ ghi thời hạn hoạt động là 15 năm, nhưng chỉ mới được 2 năm thì Trung ương vào kiểm tra thành phố Hồ Chí Minh về những “hữu khuynh” cho tư nhân tham gia vào công ty xuất nhập khẩu và dám áp dụng cơ chế giá thị trường… Kết quả là các công ty xuất nhập khẩu trực dụng bị cải tổ thành công ty quốc doanh, Công ty Cholimex cũng không ngoại lệ.

Sự biến đổi này hết sức to lớn nhưng không thể xoá đi dấu ấn là chỉ trong 2 năm hoạt động, hiệu quả kinh doanh cũng như sự đóng góp của công ty Cholimex cho nền sản xuất thành phố hết sức lớn, ảnh hưởng lan rộng khắp cả nước. Quá trình phát triển của Công ty Cholimex cũng như các công ty bạn lúc bấy giờ quả là một bước đột phá vào cơ chế bao cấp: tạo ra những mầm tư duy mới về một nền kinh tế thị trường dưới sự lãnh đạo của thế chế xã hội chủ nghĩa. Sự kiện này nếu được viết lại sẽ là sử liệu kinh tế về tiền thân của chính sách Đổi Mới hiện nay thật đáng được nghiên cứu.

Sự gần gũi của lãnh đạo làm ấm lòng trí thức

Sau khi anh Hồng Tôn Như qua đời, anh Phan Lê Đoàn về công tác tại Quận uỷ Quận 5, tôi được lên làm Giám đốc, anh Trần Bá Tước làm phó. Việc tập hợp nhóm chuyên viên trí thức cũ được mở rộng hơn.

Khi Công ty Cholimex đi vào chiều sâu của tổ chức hợp tác sản xuất ở nhiều lĩnh vực, từ việc sản xuất mì ăn liền, bột ngọt, bột giặt, rượu bia cho đến việc lắp ráp radio, cassette, tivi, xây dựng trung tâm điện toán, cho đến việc sản xuất nông nghiệp như trồng mì, trồng đậu phộng, trồng mè, nuôi tôm, lập xí nghiệp đông lạnh, xí nghiệp nông sản, xí nghiệp gia công chế biế gỗ, sản xuất thuốc đông dược, rượu Trường Xuân Tửu, hợp tác kéo sợi, dệt vải, xây dựng xí nghiệp may, xí nghiệp đan len, v.v… Từ đó tạo ra nhiều cơ hội cho anh em trí thức cũ, các nhà công thương cũ cùng tham gia. Và trong thời gian này, các anh Đỗ Hải Minh, Lê Đình Khanh, Nguyễn Chánh Đoan, Trương Quang Sáng cùng với anh em vào Công ty trước đó hình thành ra nhóm chuyên viên tư vấn cho Công ty.

Năm 1986, trong dịp tôi đến thăm anh Võ Trần Chí, lúc bấy giờ vừa lên phụ trách Bí thư Thành uỷ Thành phố Hồ Chí Minh, anh hỏi thăm về Công ty và anh em chuyên viên, đồng thời trao đổi một số vấn đề về phát triển kinh tế thành phố. Tôi đã mạnh dạn đề nghị cho phép anh em có kiến thức về kinh tế được đào tạo trong và ngoài nước trước năm 1975 nghiên cứu các đề tài kinh tế chuyên đề, nếu Thành uỷ cần.

Ý kiến này được anh Võ Trần Chí đồng ý ngay và còn đề nghị Ban Kinh tế Thành uỷ – anh Năm Ẩn là Trưởng ban- có một văn bản xác nhận Nhóm nghiên cứu kinh tế (nghiệp dư của Ban Kinh tế Thành uỷ) gọi là Nhóm nghiên cứu kinh tế chuyên đề Quận 5- Cholimex, trong đó có ghi tên 3 người: Phan Chánh Dưỡng, Trần Bá Tước, Huỳnh Bửu Sơn (ba người đang có biên chế nhà nước).

Nhưng để thận trọng hơn, tôi có làm ngay một lý lịch trích ngang của 24 anh em trong Nhóm để đưa lên Thành uỷ và báo cáo cho Thành uỷ biết hàng tuần Nhóm làm việc vào các tối thứ Hai, Tư, Sáu tại Xí nghiệp Đông lạnh 19 An Điềm thuộc Công ty Cholimex.  Lúc bấy giờ xí nghiệp này do anh Trần Văn Kiện làm Giám đốc; các anh đã tạo mọi điều kiện vật chất cho Nhóm họp hành với ba buổi cơm tối vào những ngày họp.

Như vậy, Nhóm nghiên cứu đã có “giấy khai sinh” khai với Bí thư Thành uỷ và bà đỡ là Ban Kinh tế Thành uỷ.

Thời kỳ từ năm 1986, Nhóm nghiên cứu chính thức hoạt động với đông đảo anh em: Lâm Võ Hoàng, Phan Tường Vân, Hồ Xích Tú, Nguyễn Thanh Bạch, Đỗ Nguyên Dũng, Võ Gia Minh, Nguyễn Hữu Thư, Lâm Tuấn Anh, Võ Hùng, Nguyễn Ngọc Hồ, Huỳnh Bửu Sơn, Trần Trọng Thức, Lê Văn Bĩnh, v.v… cùng với các anh em chuyên viên trong Công ty Cholimex và sau đó là anh Hoàng Thoại Châu, Mai Kim Đỉnh, v.v…

Các vị lãnh đạo thường đến dự cùng nhóm nghiên cứu là anh Võ Trần Chí, anh Sáu Tường, anh Năm Ẩn, anh Tám Hồ, anh Hai Đoàn, anh Lữ Minh Châu. Đôi khi anh Phan Chánh Trực, ông Trần Bạch Đằng, ông Tư Triết (Thứ trưởng Bộ Kinh tế Đối ngoại lúc bấy giờ) cùng đến dự.

Ngoài ra, còn có nhóm chuyên viên phụ tá của ông Võ Văn Kiệt như anh Vũ Quốc Tuấn, anh Nguyễn Thiệu cũng đến tham dự. Nhóm nghiên cứu thực sự có được một cơ hội đối thoại trực tiếp với các vị lãnh đạo cao nhất của thành phố Hồ Chí Minh và cũng có dịp trao đổi trực tiếp với các chuyên viên cao cấp gần gũi với lãnh đạo Nhà nước Trung ương. Và cũng chính nhờ có không khí cởi mở này mà anh em đã mạnh dạn đề xuất ra nhiều ý kiến sáng tạo để giải quyết các khó khăn của nền kinh tế lúc bấy giờ.

  • Mời theo dõi tiếp kỳ 2
Advertisements
No comments yet

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: