Skip to content

Vận mệnh của Đảng ở trong lòng dân

Tháng Tư 4, 2010

Tác giả: Tương Lai

Làm nhiệm vụ của một Đảng cầm quyền trong một thể chế chính trị được vận hành suốt 65 năm kể từ Cách mạng Tháng 8/1945 cho đến nay, hơn ai hết, Đảng hiểu điều đó.

Không có đảng nào chỉ là đảng của một tầng lớp xã hội

Vả chăng, đây là một nguyên lý lịch sử đã được đúc kết, mọi triều đại, mọi thể chế chính trị, tất cả mọi “thánh đế minh vương” đều phải thuộc nằm lòng. Chẳng thế mà khi giảng cho học trò, Mạnh Tử – nhà tư tưởng cổ đại sinh sau Khổng tử 179 năm, vị “Á thánh” của đạo Nho – đã dẫn giải: “khi có lễ ca tụng công đức thiên tử thì người ta chẳng ca tụng con vua Nghiêu mà ca tụng ông Thuấn! Vì vậy ta nói là do ý Trời đấy… Thiên Thái thệ trong Kinh Thư có câu:Trời không có mắt có tai, dân nhìn, tức là Trời nhìn, dân nghe, tức là trời nghelà nghĩa vậy!”. 1

Ý dân là ý trời, đẩy thuyền là Dân, lật đổ thuyền cũng là Dân cũng theo nghĩa đó.

Đấy là chuyện xưa, thời hiện đại xem ra cũng không khác mấy. Đúc kết thực tiễn của sự vận động chính trị của thế kỷ XIX và thế kỷ XX, Đại Bách khoa toàn thư Pháp đưa ra định nghĩa về đảng chính trị: “Nhìn chung, một đảng chính trị có thể được định nghĩa như thể là một tập thể xã hội tìm kiếm sự ủng hộ của nhân dân nhằm trực tiếp thực thi quyền lực, và tập thể này được tổ chức theo thời gian và không gian sao cho nó có thể vượt qua được ảnh hưởng cá nhân của người lãnh đạo. Định nghĩa này vận dụng ba yếu tố – nền tảng của đảng, cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ của nó – mà người ta sẽ xem xét trước khi xem xét những đảng được định nghĩa như vậy được hình thành trong lịch sử như thế nào“.

Thì ra, đông, tây, kim, cổ cũng chẳng  mấy khác nhau khi nhìn nhận về sứ mệnh của các lực lượng chính trị muốn đóng vai trò lãnh đạo đất nước. Định nghĩa nói trên cho thấy điều đó. Mối quan tâm số một vẫn là một bức xúc có tính phổ biến trong đời sống đương đại: “một đảng chính trị có thể được định nghĩa như thể là một tập thể xã hội tìm kiếm sự ủng hộ của nhân dân nhằm trực tiếp thực thi quyền lực, và tập thể này được tổ chức theo thời gian và không gian sao cho nó có thể vượt qua được ảnh hưởng cá nhân của người lãnh đạo“! Bức xúc là vì, đảng hiện đại, theo mọi lý luận, mọi xu hướng, mới có chừng hơn 160 năm tuổi. Và ngay từ đầu, hầu như không có đảng nào chỉ là đảng của một tầng lớp xã hội.

Vì thế, đảng đại diện và được ủng hộ bởi một số tầng lớp xã hội đông hơn số tầng lớp xã hội có người là đảng viên của đảng.

Không có dân hậu thuẫn, mọi đảng đều thất bại

Thế nhưng, từ nhiều chục năm nay, hầu như không có ngoại lệ, các đảng đều biến chất, tha hoá về hai mặt có liên quan mật thiết sau đây: Một là, đảng không còn trung thành đại diện cho những tầng lớp xã hội mà đảng sinh ra để đại diện, mà chỉ còn đại diện cho chính mỗi mình. Hai là, trong đảng, đông đảo đảng viên bị vô hiệu hoá, bị tha hoá thành những người chỉ chấp hành quyết định của “cấp trên”, thậm chí chỉ còn là những người bỏ phiếu cho số ít cầm quyền trong đảng. Và vì tình hình diễn ra như thế, nên về thực chất, đảng chỉ còn là đảng của một nhúm người có quyền lực.

Đây là điều không phải chỉ chúng ta đang quan tâm, mà là một vấn đề lý luận các đảng chính trị cũng như giới nghiên cứu đang đặt ra. Định nghĩa về đảng của Đại Bách khoa Toàn thư Pháp vừa được dẫn ra đã hàm chứa mối lo lắng vừa dẫn ra. Thực tiễn của nền chính trị thế giới cũng như thực tiễn của tiến trình cách mạng ở nước ta cho thấy một đảng chính trị, muốn thực thi cương lĩnh hành động của mình phải có một điều kiện tiên quyết: sự hậu thuẫn của dân. Một khi không có được điều kiện tiên quyết đó, thì dù nhất thời gây được tiếng vang nào đó, rút cuộc cũng chỉ chuốc lấy thất bại.

Bài học về sự biến dạng và tan rã của Việt Nam Quốc dân đảng sau cái chết của Nguyễn Thái Học, lãnh tụ của đảng này là một minh chứng sống động. Cần nhớ rằng, cuộc khởi nghĩa Yên Bái, khí phách anh hùng và sự hy sinh cao cả của Nguyễn Thái Học không những làm xúc động tâm tư của cả một thế hệ Việt Nam yêu nước những năm 1927-1930, mà ngay những người Pháp chân chính cũng từng xúc động và trân trọng ngợi ca.

Chỉ xin gợi lại một tư liệu lịch sử hiện vẫn còn lưu giữ trên website forum-unite-communiste [Diễn đàn – đoàn kết – cộng sản] của Pháp trong mục “Tư liệu cộng sản” [Documents communistes] bài thơ “Yen Bay” của Louis Aragon, nhà thơ lớn của nước Pháp trên tờ La Commune tháng 6/1930. Trong đó có đoạn:

Từ ngữ nào nhắc nhở rằng
Không thể bịt mồm một dân tộc
Không thể khuất phục dân tộc ấy
Bằng lưỡi kiếm của đao phủ?
(từ ngữ đó là) Yen-Bay.

Nguyễn Thái Học đã để lại tấm gương chói lọi về chủ nghĩa yêu nước, chí anh hùng và lòng dũng cảm cho hậu thế noi theo. Cuộc đời vẫn nhớ mãi mấy câu thơ tiếng Pháp ông đọc trong phiên tòa thực dân kết tội ông: “Mourir pour sa patrie, “C’est le sort le plus beau .“Le plus digne… d’envie… [Tạm dịch là Chết vì tổ quốc, Cái chết vinh quang, Lòng ta sung sướng,Trí ta nhẹ nhàng].

Câu nói nổi tiếng của ông: “Không thành công thì thành nhân” hình như đã có một thời bị chỉ trích là nhuốm màu bi quan “tiểu tư sản”, nhưng trong lòng dân thì đó chính là khí phách của con người có nhân cách, là bản lĩnh dám hành động, dám đương đầu với mọi hiểm nguy, kể cả cái chết. Vượt qua những rào cản của định kiến hẹp hòi trên lĩnh vực ý thức hệ mới thấy ra được đó chính là khí phách Trần Bình Trọng “ta thà làm quỷ nước Nam không thèm làm vương đất Bắc“, khí phách Việt Nam.

Cuộc sống đã cho thấy, để “thành nhân” quả không dễ. Đừng quên rằng, cùng thời và cùng dòng dõi với Trần Bình Trọng còn có Trần Ích Tắc! Không kể phường “giá áo túi cơm”, chẳng thiếu những người cũng đã từng dấn thân những mong sao “để có danh gì với núi sông“! Nhưng rồi, quyền lực và sự tha hóa của quyền lực, cùng với sự cám dỗ của thói quen có quyền lực khiến cho họ bị sức hút khủng khiếp của cái ghế quyền lực đó, làm cho họ đánh mất nhân cách. Và do vậy, dù vẫn sống, song thật sự họ đã chết trong lòng dân.

Nguyễn Thái Học thì lại khác, cái chết của ông khiến cho ông đã sống mãi với dân tộc, với nhân dân. Song thật oái oăm, chính ông đã tiên đoán ra một sự thật rất phũ phàng là: “Một khi lòng sợ sệt đã chen vào đầu óc quần chúng khiến họ hết hăng hái, hết tin tưởng, thì phong trào cách mạng có thể nguội lạnh như đám tro tàn, rồi người của Đảng cũng sẽ liên tiếp bị bắt dần, vô tình xô đẩy anh em vào cái chết lạnh lùng mòn mỏi ở các phòng ngục trại giam“. Đây là lời phát biểu của ông trong cuộc họp ngày 26/1/1930 tại Nam Sách, Hải Dương, trước ngày ông lên đoạn đầu đài gần 5 tháng [ngày 17 tháng 6 năm 1930]. 1

Chính trong lời phát biểu này, ông đã tuyên bố: “Âu là chết đi để thành cái gương phấn đấu cho người sau nối bước. Không thành công thì cũng thành nhân2. Chỉ có điều, sau cái chết của ông và những đồng chí của ông, 13 người anh hùng hiên ngang lên máy chém thực dân, người thoáng mỉm cười, người gật đầu vĩnh biệt, người lặng lẽ nhìn đất trời, hiên ngang thách thức, người ung dung giơ tay tạm biệt, và cùng hô vang “Việt Nam vạn tuế!”, thì rồi những hậu duệ của Việt Nam Quốc dân đảng sau thế hệ Nguyễn Thái Học ấy không phải ai rồi cũng “thành nhân” cả. Thậm chí ngược lại.

Quả thật, “một điều vừa rõ ràng không thể chối cãi được, vừa chứa đựng nhiều bí ẩn trong đêm tối của lịch sử mà chúng ta còn phải tiếp tục phát hiện và phát huy3 , khuyến cáo ấy của Phạm Văn Đồng đáng được vận dụng để giải thích những sự kiện lịch sử bi thảm về sự phản bội lý tưởng Nguyễn Thái Học của những hậu duệ VNQDĐ sau này! [

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những bi kịch lịch sử ấy. Song, cơ bản nhất, quyết định nhất vẫn phải tìm về trong dự phóng của chính Nguyễn Thái Học: “Một khi lòng sợ sệt đã chen vào đầu óc quần chúng khiến họ hết hăng hái, hết tin tưởng” thì đó sẽ là sự cáo chung sự nghiệp của một đảng chính trị! Mà để cho quần chúng nhân dân không “hết hăng hái, hết tin tưởng” vào đảng chính trị ấy thì tùy thuộc vào nhiều nhân tố. Trong đó, quyết định nhất là đường lối chính trị, thể hiện rõ mục tiêu hướng tới rõ ràng, minh bạch đáp ứng được nguyện vọng chính đáng và nóng bỏng của nhân dân quần chúng, và tiếp đó là phẩm chất, là tài năng – những yếu tố khiến những thành viên của đảng chính trị, từ lãnh tụ, đến các đảng viên bình thường có thể “thành nhân“!

Đọc kỹ tuyên ngôn của họ khi thành lập, có thể thấy rõ tôn chỉ: “dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc” cũng như nhiệm vụ “cách mạng dân tộc, cách mạng xã hội, xây dựng nền dân chủ trực tiếp4 mà Nguyễn Thái Học đề ra cho đảng của mình cũng thật rõ ràng, minh bạch và không phải là không phản ảnh được ý nguyện của dân ta lúc bấy giờ.

Thế nhưng, dần dần, đường lối chính trị ấy đã bị biến dạng, bị xuyên tạc để rồi chuyển thành đối lập với ý chí và lợi ích chính đáng của nhân dân và cùng với những thoái hóa, biến chất, sa đọa của đường lối chính trị, biến chính đảng trở thành công cụ của ngoại bang, thì phẩm chất, nhân cách của những kẻ cầm đầu và một nhúm người biến thành công cụ của chúng tất yếu cũng sa đọa theo. Vai trò lịch sử ngắn ngủi của họ bị cáo chung là chuyện dễ hiểu.

Thật ra thì, cả hai nhân tố kể trên có tương tác mật thiết với nhau, vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của nhau, và đó cũng là biện chứng của sự vận động. Quả thật, Khổng Tử đã sâu sắc khi chỉ bằng bốn từ mà nói lên bản chất của hoạt động chính trị : “chính giả, chính dã” [chính trị là chính đính] [Luận Ngữ. thiên Nhan uyên] Khi đã “bất chính” trong đường lối thì sự “bất chính” của người điều hành là hệ quả logic. Chính từ cái logíc đó, trả lời vua Ai Công về câu hỏi : “hà vi tắc dân phục” [làm thế nào thì dân phục] Khổng Tử nói : “Cử trực, thố chư uổng, tắc dân phục. Cử uổng thố chư trực, tăng dân bất phục” [Đề cử người ngay thẳng lên trên hạng người cong queo thì dân phục . Đề cử người cong queo lên trên người ngay thẳng thì dân không phục “] [Luận Ngữ thiên Vi Chính] . Dân đã không phục thì chẳng khác gì cái nền lung lay, tòa lâu đài tuy vẫn còn ngạo nghễ tồn tại đấy nhưng sự sụp đổ chỉ là ngày một ngày hai.

Tha hóa về quyền lực, nguy cơ thường trực của đảng cầm quyền

Những điều vừa dẫn giải ở trên chỉ nhằm dẫn đến chủ đề của bài viết : vận mệnh của Đảng nằm trong lòng dân! Trong bài nói tại lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng, Bác Hồ có một câu thật thấm thía “Đảng ta là con nòi5. Con của ai? Của dân tộc , của nhân dân. Cho nên “Hễ còn có một người Việt Nam bị bóc lột, bị nghèo nàn, thì Đảng vẫn đau thương, cho đó là vì mình chưa làm tròn nhiệm vụ6.

Theo cách ấy, Bác Hồ đã chuyển tải những vấn đề trừu tượng, khó hiểu nhất về khái niệm chính đảng, một thực thể chính trị, một phạm trù khoa học đến với đại bộ phận quần chúng nhân dân vốn chưa thể nào có đủ trình độ học vấn để hiểu đảng trên bình diện lý luận, nhằm làm cho ai cũng có thể hiểu được. Đối chiếu với những dẫn chứng đông tây kim cổ, hoặc chỉ riêng một định nghĩa của “Đại Bách khoa toàn thư Pháp” đã dẫn ở trên cũng thấy được trong câu nói mộc mạc của Bác đã chứa đựng chân lý của cuộc sống, cho thấy vận mệnh của Đảng nằm ở đâu.

Bằng sự trải nghiệm của chính bản thân mình, Bác Hồ hiểu rõ những thành tựu cũng như những sai lầm mà phong trào cách mạng đã trải qua, đặc biệt hiểu rõ và thường xuyên cảnh báo về sự tha hóa của quyền lực, nguy cơ thường trực của một đảng cầm quyền. Sự tha hóa ấy sẽ đẩy tới mọi biến thái của sự thoái hóa về phẩm chất đạo đức của người cán bộ đảng viên. Càng nguy hiểm hơn khi những cán bộ đảng viên ấy lại đảm đương những trọng trách, vì như Bác vẫn thường xuyên khẳng định “Mọi việc thành hay bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng hay không7.

Có thể nói rằng, không chỉ trong đảng và trong nước ta, mà nhìn rộng ra trong phong trào cách mạng thế giới, Hồ Chí Minh là người viết nhiều, nói nhiều nhất đến vấn đề phẩm chất đạo đức của người chiến sĩ tiền phong. Nói như thế không phải là Bác Hồ coi nhẹ đường lối chính trị, coi nhẹ lý luận. Hoàn toàn không phải. Thực tiễn của sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta từ ngày có Đảng, lúc nào vận dụng đúng tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng, về chiến lược và sách lược của Đảng, lúc ấy cách mạng thắng lợi. Ngược lại, lúc nào xa rời quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh, lúc ấy cách mạng gặp khó khăn và thất bại.

Chỉ có điều, Bác Hồ “có sự dị ứng bẩm sinh với bệnh giáo điều rập khuôn, bệnh công thức sáo mòn8 , Người đòi hỏi “không được sao chép nguyên văn những gì có sẵn, điều cốt yếu là hiểu đúng tinh thần và biết vận dụng các nguyên lý sát với tình hình cụ thể9 nhằm thực hiện cho được sứ mệnh cao cả của một “Đảng cầm quyền“. Người quyết liệt phê phán bệnh hình thức, khoa trương, đưa ra rất nhiều những khẩu hiệu, những phong trào, những đợt vận động mà không có thực chất : “Than ôi! Khẩu hiệu cách mạng của Đảng mà hóa ra lá bùa của thầy cúng. Lỗi đó tự ai? Thế mà bảođại chúng hóa“, “dân tộc hóathì hóa cái gì? 10

Xin nhắc lại một sự kiện đặc biệt, ngày 19.12.1946 Bác ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến thì trước khi chuyển toàn bộ cơ quan Trung ương lên Việt Bắc, Thủ đô kháng chiến, trung tuần tháng 2.1947, Bác có một quyết định đột xuất : cùng mấy cán bộ đi về Thanh Hóa, một tỉnh ở hậu phương giàu sức người sức của để thăm hỏi và nói chuyện với cán bộ và nhân dân tỉnh Thanh. Thế là, để chuẩn bị bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ, Hồ Chí Minh trước hết chuẩn bị về tư tưởng và phẩm chất cho người cán bộ và mối quan hệ giữa cán bộ, tức là người thay mặt cho Đảng và Chính phủ, với nhân dân.

Chính tại đây, trước hết Bác nói về dân chủ :  “các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân…Dân chủ thì Chính phủ phải là đày tớ. Làm việc ngày nay không phải để thăng quan phát tài. Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ” . 11

Cũng tại đây, Bác đã thẳng thắn vạch ra những tật bệnh của sự thoái hóa biến chất của người có chức có quyền và đề nghị nhân dân giám sát, phê bình : “…có người làm quan cách mạng chợ đỏ, chợ đen, khinh dân, mưu vinh thân phì gia. Từ một năm nay, nội hoạn, ngoại xâm không lúc nào không có, nên còn nhiều việc Chính phủ Trung ương không làm được. Có nhiều cái biết là hay, nhưng còn việc gấp phải làm gấp cái đã. Xin đồng bào phê bình, giúp đỡ, giám sát công việc của Chính phủ. Còn những việc làm mà chưa làm được thì xin đồng bào nguyên lượng“. 12

Đây chính là cách Hồ Chí Minh thực hành tư tưởng về nhà nước của dân, do dân và vì dân một cách sống động và giàu sức thuyết phục.  Người đòi hỏi “phải đưa chính trị vào giữa dân gian“, và bằng hành động cụ thể, Người đã chứng minh nguyên lý ấy trong việc chuẩn bị cho cuộc kháng chiến trường kỳ bằng quyết định nói trên.

“Chuẩn bị” như vậy vì Người đã tiên liệu được nguy cơ tha hóa của một đảng cầm quyền mà  hơn 30 năm sau, trong bài viết cuối cùng của mình đăng trên Tạp Chí Cộng Sản và báo Nhân Dân, Phạm Văn Đồng đã chỉ ra :”nhiều người có chức có quyền trong hệ thống tổ chức của Đảng, Nhà nước, các đoàn thể quần chúng hư hỏng quá, thoái hóa, biến chất, chạy theo chức quyền, tiền, danh và lợi, những người ấy đang làm cho một bộ phận không nhỏ trong nhân dân ta ngày càng giảm lòng tin vào Đảng, đưa đến tình hình nguy kịch không thể coi thường“.  Có thấy cho đủ, cho hết “tình hình nguy kịch” này mởi hiệu tại sao trong Di chúc Bác Hồ thiết tha căn dặn : “việc cần làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng“.13

Vận mệnh của Đảng nằm trong sự chỉnh đốn ấy.

Chỉnh đốn để Đảng trở lại đúng là “con nòi”, con của dân, tuyệt đối không phải là “cha mẹ dân” chỉ biết “cao cao tại thượng” như Bác Hồ đã từng nhắc nhở. Đương nhiên, cuộc chỉnh đốn này chỉ có thể thành công khi có sự tiếp sức của dân, khi thật lòng tin vào dân để dân tin rằng Đảng thật sự muốn chỉnh đốn. Điều này cũng đã được Bác Hồ tiên liệu khi Người thiết tha căn dặn trong Di Chúc :

Đây là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ tốt tươi. Để giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến đầu khổng lồ này cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân“.14

________

Chú thích :

1 Dẫn lại theo Danh Đức, báo “Tuổi Trẻ” ngày 7.2.2010

2, 4 Dẫn lại theo “Wipikedia. Đại Bách khoa mở ”

3 Phạm Văn Đồng. “Văn hóa và Đổi mới ” NXBCTQG. Hà Nội 1994, tr. 17

5, 6 Hồ Chí Minh toàn tập. Tập 10. NXBCTQG. 1996. tr.2 và tr.4

7 Hồ Chí Minh toàn tập. Tập 7. NXBCTQG. 1995, tr. 480

8.9 Phạm Văn Đồng “Hồ Chí minh, Quá khứ Hiện tại vàTtương lai Tập I. NXB ST. Hà Nội 1991,tr.29, tr.98

10, 11,12 Hồ Chí Minh toàn tập. Tập 5. NXBCTQG. 1995.tr.305, tr.60, tr.61, tr. 298; tr. 297

13, 14 Hồ Chí Minh toàn tập. Tập 12. NXBCTQG. 1995, tr. 510, tr. .503

Advertisements
No comments yet

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: